Hiển thị các bài đăng có nhãn nho-giao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nho-giao. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2017

QUAN NIỆM VỀ TU THÂN THEO NHO GIA


Có thể nói được rằng Nho giáo là một đạo giáo có nhiều bộ mặt nhất. Trong suốt 2500 năm nay, Nho giáo đã được khai thác về mọi lãnh vực như: luân lý, tín ngưỡng, chính trị, gia đình, xã hội, từ chương, khóa cử, thuật số, tu dưỡng, đạo đức v.v…
Cũng vì thế mà xưa nay, có rất nhiều nhận định khác nhau về Nho giáo. Người thì cho rằng Nho giáo là một đạo nhập thế, dấn thân; người thì cho rằng Nho giáo thiên về chính trị; người thì cho rằng Nho giáo chỉ chú trọng đến luân lý, cương thường. Cũng có người chủ trương Nho giáo chỉ biết dạy con người nhân đạo, nghĩa là chỉ biết dạy con người ăn ở xứng đáng với danh nghĩa con người, chứ không dạy con người làm thần, thánh.
Những người theo Tam giáo ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam thường chủ trương:

Nho là Nhân đạo
Lão là Tiên đạo
Thích là Phật đạo.
Và như vậy, dĩ nhiên là:
Đạo Nho kém nhất
Đạo Lão được xếp hạng trung bình
Đạo Phật mới là đệ nhất hạng.

Quan niệm này thấy rải rác trong nhiều sách vở bàn về Tam giáo. Dưới đây chỉ xin đan cử một trường hợp điển hình. Thiền sư Tông Bổn, chùa Diên Khánh, đời nhà Tống bên Tầu, tác giả bộ sách Qui nguyên trực chỉ đã nhận định như sau:
Theo Vô Tận cư sĩ: thì đạo Nho trị bệnh ngoài da, đạo Tiên trị bệnh trong huyết mạch, đạo Phật trị bệnh trong mỡ xương … 

Theo hoàng đế Hiếu Tôn thì: lấy đạo Phật để trị tâm, lấy đạo Tiên để trị thân, lấy đạo Nho để trị đời … 
Người học Nho chết rồi thì hết, chẳng qua khoảng 100 năm thôi. Người học Đạo vụ cầu sống mãi, chẳng qua ngàn muôn năm mà thôi. Người học Phật, dứt mãi mãi với sự sống chết, trong trẻo hoài, chẳng qua trải khắp các số kiếp nhiều như bụi cát, mà không có cùng tận vậy .
Nho như một cái thếp đèn, soi sáng một đêm, khi chuông ngân hồ cạn, thời dầu khô đèn tắt vậy. Đạo Tiên như ngọn đèn trăm năm của vua A Xà Thế làm ra, để soi xá lợi của Phật, khi trăm năm đã mãn, thì đèn đó bèn tắt vậy. Phật như mặt trời sáng rỡ chiếu diệu, muôn đời thường sáng, hễ lặn phía Tây thì mọc phía Đông, xây vòng không nghỉ vậy. Đó là lời luận xa gần, của Tam giáo, nó đại lược về cái ý lớn của Tam giáo … 

Đọc những lời nhận định trên của sách Qui nguyên trực chỉ, ta thấy ngay rằng chúng thiếu vô tư, thiếu căn cứ, và có mục đích tuyên truyền cho Phật giáo rõ ràng. Theo tôi, một thái dộ thiên vị không thể giúp ta nhận thức được rõ ràng những ưu khuyết điểm của các đạo giáo.

Sau nhiều năm khảo cứu đạo Nho, tôi đã nhận chân được rằng: nếu xưa nay người ta có những quan niệm sai lầm về Nho giáo, thì cũng không lạ. Trước hết, muốn hiểu Nho giáo thực ra không phải là chuyện dễ. Đọc và hiểu được toàn bộ Tứ thư, Ngũ kinh, không phải là một công trình vài tháng, vài năm; ấy là chưa kể đến bách gia chư tử. Sau nữa một người dầu giỏi chữ Hán mấy đi nữa, dẫu đọc sách Nho nhiều tháng, nhiều năm mấy đi nữa, nếu người đó chỉ chú trọng đến văn chương, nếu người đó chỉ dùng đạo Nho như là một công cụ để bước vào con đường công danh, hoạn lộ, thì người đó chắc chắn sẽ chẳng nắm được phần nghĩa lý, phần căn cốt chính truyền của Nho giáo.

Khi còn ở Trung Việt, tôi có quen một cụ phó bảng. Một hôm tôi muốn cùng cụ bàn về nghĩa lý kinh Dịch. Cụ tâm sự với tôi rằng quả thực, cụ chỉ giỏi về văn chương, thi phú, còn nghĩa lý cao xa thì không biết, nhất là nghĩa lý Kinh Dịch. Đó là vì, khi còn trẻ đi học, thì lo học thuộc lòng, để đi thi. Vả hồi đó, trong chương trình thi lại không có Kinh Dịch. Đến khi thi đỗ, ra làm quan, thì xếp dần sách vở, lo làm, lo ăn, lo chơi. Khi về già thì học địa lý để mua vui. Có vậy thôi. – Những lời tâm sự của cụ phó bảng nói trên làm tôi hết sức suy tư. Mới hay giỏi chữ Nho không phải là giỏi đạo lý, cũng như giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh không phải là giỏi triết lý, đạo đức …

Hôm nay với đề tài: Quan niệm về tu thân theo Nho giáo», tôi muốn biện minh rằng Nho giáo không hề có thiếu phần tu tâm dưỡng tính, và thánh hiền Nho giáo, ngoài việc lo đắp xây hòa bình, thái thịnh cho đời, còn cố công tu luyện tâm tình đúng với tôn chỉ: «Nội thánh, ngoại vương chi đạo».
Trong bài thuyết trình này, tôi không nhất thiết dựa vào Tứ Thư, Ngũ Kinh, mà cũng còn tham khảo thêm đời sống và quan niệm về tu dưỡng của các bậc danh nho lịch đại. Làm như vậy, cốt là để cống hiến quí vị một cái nhìn nhất quán về Nho giáo, cũng như về công phu tu thân của Nho giáo.

Trong bài thuyết trình này, tôi sẽ lần lượt trình bày:

1. Chủ trương then chốt của Nho giáo.
2. Quan niệm về tu thân theo Nho giáo gồm ba đề mục:
  • Lý do tu thân
  •  Phương pháp tu thân
  • Mục đích tu thân

I. CHỦ TRƯƠNG THEN CHỐT CỦA NHO GIÁO

Nho giáo nói chung, công trình tu thân nói riêng, cũng như mọi vấn đề chính trị, xã hội khác đều dựa trên một chủ trương căn bản này; đó là:

CON NGƯỜI CÓ THIÊN TÍNH

Thiên tính ấy được gọi là Đạo tâm hay theo Kinh Thư (Kinh Thư, Đại lương huệ, 5),
  •  Thiên mệnh, hay Tính theo Trung Dung (Trung Dung chương 1)
  • Minh đức theo Đại Học (Đại Học chương 1)
  •  Di, Tắc theo Kinh Thi (Kinh Thi, Đại Nhã, Đãng, Chung Dân, 6)

Từ ngữ tuy khác nhau, nhưng chung qui đều nói lên một chân lý cốt cán rằng dưới những hiện tượng tâm tư, còn có bản thể Trời làm căn cốt.

- Vì bản tính người là Trời, cho nên Nho giáo mới dám nói rằng: Tính con người vốn tốt (Luận Ngữ, V, 12, XVII, 2. Mạnh Tử, Đặng Văn Công, chương cú thượng 1,2; Mạnh Tử, Cáo Tử chương cú thượng v.v…).
- Bản tính Trời ấy là gốc, mọi việc khác như tâm tư, thân xác, gia đình, quốc gia, xã hội, thiên hạ sự v.v… là thân, là cành, là ngọn. Không biết được gốc làm sao mà trị được ngọn, không hiểu được Trời, làm sao hiểu nỗi được người. (Tư tri nhân, bất khả dĩ bất tri Thiên. – Trung Dung, XX).

Trung Dung viết:

Biết Người, trước phải biết Trời,
Hiểu Trời chẳng nổi hiểu Người làm sao?
(Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên. – Trung Dung XX)
- Cho nên người quân tử phải cố gắng học hỏi, mài miệt suy tư để tìm cho ra cái khuôn thời, cái gốc trời nơi mình, rồi ra mới có thể «chính tâm, thành ý, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ» được.
- Vì con người đã có Thiên chân, đã có sẵn mầm mộng toàn thiện nơi mình, cho nên con người có bổn phận làm triển dương mầm mộng toàn thiện ấy cho tới mức tinh vi, cao đại.
- Mọi người sinh ra ở đời này đều có bổn phận nỗ lực tiến tới mục phiêu cao cả ấy, và phải góp phần vào công cuộc đại hóa, đại tạo ấy của đất trời.

Tất cả chủ trương trên đã được trình bày ngay nơi đầu sách Đại Học. Đại Học viết:
Đại Học có mục phiêu rõ rệt
Đuốc lương tâm cương quyết phát huy.
Dạy dân lối sống tân kỳ,
Chưa nơi hoàn thiện còn đi chưa ngừng.
Có mục phiêu rồi lòng sẽ định,
Lòng định rồi nhẹ gánh lo toan.
Hết lo lòng sẽ bình an,
Bình an tâm trí rộng đàng xét suy.
Suy xét rộng tinh vi thấu trọn,
Thấu sự đời ngành ngọn đầu đuôi.
Trước sau đã rõ khúc nhôi,
Thế là gần Đạo, gần Trời còn chi.
Muốn đức sáng truyền đi thiên hạ,
Người xưa lo cải hóa dân mình.
Trị dân, trước trị gia đình,
Gia đình muốn trị, sửa mình trước tiên.
Muốn sử mình, tâm nên sửa trước,
Sửa tâm hồn trước cốt ý hay.
Ý hay phải học cho dày,
Dày công học vấn sẽ hay Khuôn Trời.
Hay Khuôn Trời, ắt thôi thấu triệt,
Thấu triệt rồi, ý thiệt lòng ngay.
Lòng ngay ta sẽ hóa hay,
Ta hay, gia đạo mỗi ngày một yên.
Nhà đã yên, nước liền thịnh trị,
Nước trị bình, bốn bể bình an.
Từ vua cho tới dân gian,
Tu thân một mực lấy làm căn cơ … (Đại Học, I)

II. QUAN NIỆM VỀ TU THÂN THEO NHO GIÁO

Trong phần này tôi sẽ lần lượt bàn về:
a. Lý do tu thân theo Nho giáo.
b. Phương pháp tu thân theo Nho giáo.
c. Mục đích tu thân theo Nho giáo.

A. LÝ DO TU THÂN THEO NHO GIÁO

Hiểu được chủ trương nòng cốt nói trên của Nho giáo, ta sẽ hiểu tại sao con người cần phải tu thân.
Tu thân là gì? Tu thân là sửa mình.
Sửa mình là gì? Là sửa tâm hồn cho nên tốt đẹp.
Tại sao phải sửa tâm hồn cho nên tốt đẹp?

Thưa vì trong mỗi người chúng ta đều đã có thiên tính, cho nên đều đã có lẽ chí thiện, chí mỹ của trời đất tiềm ẩn bên trong, vì thế nên con người cần phải tu thân để thực hiện lẽ chí mỹ chí thiện ấy.
Đổng Trọng Thư, một danh nho đời Hán, đã cho rằng: Tính như con kén, như cái trứng. Trứng đợi ấp rồi mới thành tơ, tính đợi dạy rồi mới thiện, thế gọi là Chân Thiện. Trời sinh ra dân, cho cái tính có thiện chất mà chưa có thể thiện, rồi vì dân là lập ra vua để làm cho thiện, ấy là ý Trời vậy … [5].
Thế tức là, khi sinh ra, con người mới chỉ có khả năng để trở nên hoàn thiện, chứ chưa phải đã là toàn thiện. Con người còn cần phải dùng thời gian, hoàn cảnh, cần tốn công phu tu luyện, rồi ra mới trở nên toàn thiện được. Cho nên SINH chưa đủ, còn cần phải THÀNH nữa mới được vẹn toàn.
Hiểu nhẽ đó, nên khi bình về các số SINH, số THÀNH trong Hà Đồ, tôi đã làm mấy vần thơ sau:

Sinh, thành dùng số nói lên,
Lẽ trời sau trước nói liền huyễn linh.
Âm dương khi đã phân trình,
Nếu không kết cấu sao thành hóa cơ?
Âm Dương nếu những hững hờ,
Trời người xa cách bao giờ có hay.
Lẽ trời cảm ứng xưa nay,
Muôn phương hòa hợp phơi bày tinh anh.
Có SINH nhưng cũng có THÀNH,
Không tu hồ dễ Trời dành phẩm tiên.
Mới sinh, như gốm chưa men,
Như vàng chưa luyện, như duyên chưa thành.
Cho nên phải tập, phải tành,
Phải chau, phải chuốt, tinh anh mới toàn …
Đã sinh ra ở trần hoàn,
Phải dùng thời thế Trời ban cho mình.
Lao lung rồi mới hiển vinh,
Chớ đừng để mặc thế tình đẩy đưa …
(Xem Hà Đồ của tác giả, phần tổng luận)

B. PHƯƠNG PHÁP TU THÂN
a. Lập chí

Trước hết muốn TU THÂN, cần phải lập chí.
Theo Nho gia chân chính, lập chí là thực tâm ước nguyện, lo dốc chí học hành, tu tập để trờ thành
THÁNH, HIỀN.

Học để mà biết phương pháp tu luyện.

Hành để mà chỉnh trang tâm hồn, cải thiện tâm hồn. Nhiều bậc đại nho, sau khi đã đỗ đạt cao, đã bỏ hẳn cái lối học để cầu danh, tranh lợi, mà theo đòi cái lối học để tìm cầu đạo lý, trở thành thánh hiền.
Chu Hi (1130-1200), một danh nho đời Tống, đỗ tiến sĩ năm 18 tuổi, ra làm quan được ít lâu, bỏ về. Năm 28 tuổi, nghe tiếng Lý Đồng, một danh nho thụ đắc được đạo lý chính truyền Nho giáo, ông bèn đi bộ mấy trăm cây số, đến xin thụ giáo, và ông đã theo học Lý Đồng trong vòng 5 năm, cho tới khi Lý Đồng mãn phần.

Ông viết: «Người đời nay, tham lợi lộc, mà không tham đạo lý, muốn làm người quí mà không muốn làm người tốt, đó là cái bệnh ở sự không lập chí.» 

Lục Tượng Sơn (1139-1192), một danh nho khác đời Tống cũng cho rằng: Chỉ trừ những bậc có thiên tư đĩnh ngộ, thấy rõ đạo lý, mới quyết chí về đường tu dưỡng, còn ngoại giả là chỉ dua theo thói đời, mượn tiếng thánh hiền, để đi tới đường lợi lộc. Bởi vậy cái danh thì có, cái thực thì không … [7].

Gương lập chí sáng tỏ nhất để thành thánh hiền, ta thấy được nơi VƯƠNG DƯƠNG MINH (1472-1528), một danh Nho thời Minh.

Vương Dương Minh thuở nhỏ thông minh lạ thường, ở nhà nghe tổ phụ là Trúc Hiên Công đọc sách, nghe đến đâu nhớ đến đấy. Năm 11 tuổi đi học, một hôm ông hỏi thày học rằng: «Ở đời việc gì là hơn cả?», Thày nói rằng: «Chỉ có học rồi thi đỗ là hơn cả.» Ông không chịu, và nói rằng: «Chỉ có học để làm thánh hiền là hơn.»[8] Và từ đấy cho đến lớn, ông tha thiết suy tư, học hành, tầm sư học đạo. Năm 17 tuổi, ông đến Giang Tây, cưới vợ là con gái quan tham nghị Chu Dưỡng Hòa.
Ngay hôm sắp làm lễ hợp cẩn, ông đi chơi đến Thiết Trụ cung, thấy một đạo sĩ đang ngồi tu luyện, ông vào nghe nói về thuyết trường sinh, rồi ngồi đối thoại với đạo sĩ ấy suốt đêm, quên cả việc đi cưới vợ.

Năm 28 tuổi, ông đỗ tiến sĩ, rồi ra làm quan, nhưng mà vẫn vơ vẫn muốn xuất gia. Ông chê lối học từ chương của các bè bạn đương thời. Ông học Phật, học Lão, học Nho để cố tìm cho ra con đường tiến tới thánh hiền. Tuy tốn nhiều công phu, mà vẫn chưa toại nguyện. Mãi tới năm 34 tuổi, khi bị triều đình đày ra Long Trường một nơi hoang vu, man mọi, một hôm nửa đêm ông mới chợt tỉnh ngộ ra cái nghĩa «Cách vật trí tri» của Đại Học, và nhận chân được rõ ràng rằng Đạo chẳng ngoài tâm, và Lương tri tức là Đạo, tức là Trời. Từ đấy ông mới sáng lập ra được một học thuyết riêng biệt và chủ trương: Trí Lương Tri, để đưa người vào đường Thánh học. Ta thấy một người như Vương Dương Minh mà cũng phải tốn nhiều năm tháng, nhiều công phu mới trở thành thánh hiền. Từ năm 11 tuổi đã dốc chí học hành để trở thành thánh hiền, mà mãi tới năm 34, khi bị lao lung đày ải, xa cách hẳn thế giới văn minh, xa cách hẳn với từ chương, sách vở, ông mới tìm thấy được ánh sáng Trời chiếu rõ ở Tâm Linh … .

b. Học hỏi, suy tư

Sau khi đã lập nguyện, lập chí, nhất định dùng cuộc đời mình để tu luyện trở thành thánh hiền, các bậc danh nho mới ra công học hỏi suy tư.
Mà học hỏi, suy tư này, không còn là cái học để thêm kiến văn, kiến thức nữa, mà chính là để tìm lại Thiên Tâm, Thiên Tính, Bản Tâm, Bản Tính của mình.

Khảo về phép học của Nho giáo, ta thấy có hai đường lối:
- Một là tìm lẽ nhất quán ở ngoài tâm.
- Hai là tìm lẽ nhất quán ở trong tâm.

Tìm lẽ nhất quán ở ngoài tâm là cái học chi ly, phiền tạp. Học theo lối đó, sẽ hướng ngoại, sẽ lệ thuộc hoàn cảnh, sách vở, sẽ thích nghị luận biện bác. Đó là cái học «cầu lấy biết để mà nói».
Tìm lẽ nhất quán ở trong tâm là cái học giản dị, nhưng bao quát. Nó cốt ở sự đơn giản, phác thực, tự chứng, tự nghiệm, tự đắc. Mục đích của cái học này là «cầu lấy biết để mà hành, mà tu cho tâm thần ngày thêm linh sảng».

Hai đường lối học hỏi trên tuy cao thấp khác nhau, nhưng thực ra bổ khuyết lẫn cho nhau. Và thường thì ai cũng phải đọc sách trước rồi sau mới «quán tâm» được.
Tóm lại học hỏi cốt là để «cùng lý, trí tri».

Trình tử bàn về vấn đề học hỏi suy tư để tìm cầu cho ta nghĩa lý như sau:
«Cùng lý cũng có nhiều cách: hoặc đọc sách để giảng minh nghĩa lý, hoặc nghị luận nhân vật xưa nay để biện biệt điều phải trái, hoặc ứng tiếp sự vật mà thuận lẽ đương nhiên.
Trình Tử còn cho rằng: «Không suy nghĩa chín chắn không thể đến được cõi đạo lý», «không suy nghĩa chín chắn mà đắc đạo, thì sự đắc đạo ấy cũng dễ mất.» và «tự lâu ngày, sự minh duệ tự nhiên sinh ra.

Ông cũng hiểu rằng điều sở đắc của người học đạo phần như do ở trực giáo hơn ở sách vở và thầy bạn. cho nên ông thường nói: «Đại phàm học vấn, do sự nghe biết, đều không thể gọi là tự đắc. Muốn tự đắc phải mặc thức, tâm không… Nghe thấy mà biết, không phải là sự hiểu biết của đức tính. Sự hiểu biết của đức tính không mượn ở kiến văn.

Nói thế tức là «học đạo cũng phải tuần tự trước sau, có gần có xa, có thấp, có cao, có dễ có khó, không thể nhất đán đã lĩnh hộ được đạo thể. Người mới bắt đầu học đạo mà muốn «mặc thức tâm thông» ngay cũng chẳng khác gì kẻ muốn đứng trên đỉnh núi, nhưng không muốn leo núi, muốn ở bên kia sông mà chẳng vượt sông: chỉ là những chuyện hão huyền, không thể nào thực hiện được.

Trên đây, nó rằng học hỏi suy tư để tìm cho ra lẽ nhất quán của trời đất, để «cùng lý, tận tính». Thay vì dùng những danh từ văn chương, hoa dạng ấy, ta sẽ nói nôm na như sau:
Người xưa học hỏi để tìm cho ra lẽ Một chi phối hoàn võ.
Ở vũ trụ bên ngoài, thì lẽ Một, hay Trời sinh xuất ra vạn tượng, vạn hữu.
Ở vũ trụ bên trong tâm thần ta, thì lẽ Một hay Trời sinh xuất ra vạn tình, vạn niệm.
Cho nên tìm ra được lẽ Một ấy nơi tâm, tức là tìm ra được phần Linh Thiêng nhất của tâm thần chúng ta.
Cái phần Linh Thiêng nhất ấy, Nho gia xưa gọi là Tính, là Mệnh, là Minh đức, là Trung, là Đạo, là Thiên lý v.v…
Nhưng nói cho nôm na hơn cho cụ thể hơn, thì cái phần Linh Thiêng ấy chính là LƯƠNG TÂM của mỗi một người chúng ta.
Tôi nhận định rằng: nếu chúng ta cứ dùng những chữ Thiên tính, Thiên lý, Minh đức, ta sẽ thấy phần Linh Thiêng ấy trở nên xa vời với chúng ta, và rất khó chứng nghiệm được, y thức như khi ta dùng những danh từ Chân Như, Phật tính, hay Bản Lai diện mục của đạo Phật. Cho nên từ lâu, để giản dị hóa vấn đề tôi đã chủ trương như Vương Dương Minh:
Học là để tìm lại được Lương Tâm.
Tu là Để sống theo đúng lương tâm.
Vương Dương Minh cho rằng Lương tâm hay Lương tri cũng chính là Đạo, là Trời. Ông viết: «Cái bản thể của tâm là thiên lý: cái chiêu sinh minh linh giáo của thiên lý gọi là lương tri.
«Tâm tức là Đạo, Đạo tức là Trời, biết tâm thì biết Đạo, biết Trời.
Ông còn nói: Thiên thánh giai quá ảnh,
 Lương tri mới thực chính thầy ta.
Ông cũng còn làm bài thơ sau:
Lương tri tựu thị độc tri thì
Thử tri chi ngoại cánh vô tri.
Nhân nhân đô hữu lương tri tại,
Tri đắc lương tri khước thị thùy [15].
Tạm dịch:
Lương tri mà biết, biết riêng ai,
Biết được lương tri, khỏi biết ngoài.
Ai mà chẳng có lương tri sẵn,
Biết được lương tri hỏi mấy người?

Tìm ra được Lương Tâm, Lương tri rồi, chúng ta sẽ nhận thấy rõ ràng rằng: ở nơi mỗi con người chúng ta, ai cũng có hai phần tách biệt sau đây:
- Lương tâm
- Tư tâm.
Và chúng ta sẽ suy ra được một cách rất dễ dàng rằng:
- Tư tâm mỗi một người chúng ta hết sức khác nhau; tư tâm người da vàng khác tư tâm người da đen, da trắng, da đỏ, tư tâm người nay khác tư tâm người xưa.
Nhưng lương tâm chúng ta đều giống nhau; lương tâm da vàng, da trắng, da đen, da đỏ là một, lương tâm người xưa người nay là một.

Tư tâm ta và tư tâm Phật Thánh khác nhau.
Nhưng Lương tâm ta và lương tâm Phật Thánh xưa nay là một.
Như vậy, chúng ta khác Thánh, Hiền, Tiên, Phật ở điểm nào?
Thưa chính là ở điểm này:
- Tư tâm và lương tâm Phật Thánh hoàn toàn giống nhau. Ở nơi các ngài, tư tâm đã hoàn toàn biến thành Lương Tâm.
- Còn ở nơi chúng ta, thì tư tâm và lương tâm khác nhau như ngày với đêm, như nóng với lạnh, như nước với lửa. Ở nơi chúng ta thì tư tâm và lương tâm thường cãi vã nhau, chống đối nhau, y như ông thì nói gà mà bà thì nói vịt, y như trống thì đánh xuôi mà kèn thì thổi ngược vậy.
Như vậy, ở nơi phàm phu tục tử thì lương tâm đã bị tư tâm làm khuất lấp, y như một bầu trời vân vũ dày đặc làm che mất ánh dương quang. Họ y như là những người đã ký giấy cho Lương tâm nghỉ dài hạn, để tha hồ tác yêu, tác quái. Tư tâm họ có thể ví được với những máy vô tuyến truyền hình đã hỏng hết bóng đèn, không còn bắt được những tiếng nói, và những hình ảnh, từ trung tâm truyền hình Lương tâm phát đi. Họ là những người chẳng nhiều thì ít đã đánh mất đi lương tâm, đã táng tận lương tâm…
- Triết nhân là những con người trông thấy rõ hai phần tách biệt trong người:
- Một bên là Lương tâm, là Bản thể con người, là khuôn vàng, thước ngọc hoàn thiện, Trời ban cho con người.
- Một bên là Tư tâm còn đầy ác hôn, khiếm khuyết, cần phải được khai quang, và cải thiện.
- Thánh hiền đắc đạo là những người tư tâm chẳng còn, niềm tây đã hết, chỉ còn thuần có Lương tâm, thuần có Thiên Lý hoạt động bên trong.
Cho nên trong chương trình cần học của Nho gia, cái điều quan trọng nhất là tìm lại Lương tâm cho mình và cho người.
Mạnh Tử viết: «Nhân là lương tâm của người, nghĩa là con đường chính đại của người. Những ai bỏ con đường chính đại của mình mà chẳng theo, những kẻ để thất lạc lương tâm của mình mà chẳng biết tầm nó lại, thật đáng thương hại thay! Mỗi khi con gà, con chó của họ chạy lạc, thì họ biết đi kiếm mà đem về. nhưng tới chừng cái lương tâm của họ thất lạc, thì họ chẳng biết cách tầm nó trở lại! Người học vấn đạo lý chỉ có cái mục đích này mà thôi là tầm lại cái lương tâm thất lạc của mình.» (Mạnh tử, Cáo tử chương cú thượng, câu II).
Hồ Hoằng (? – 1163) một danh nho thời Tống cũng nói: «Đạo sẵn trong tâm người ta, suy ra rất tốt lành. Nhưng khốn nạn vì tâm bị phóng mà chẳng biết cầu lại mà thôi: Tai nghe mắt thấy làm che lấp được mình; cha con vợ chồng làm lụy được mình; y cầu ẩm thực làm suy mê được mình. Đã mất bản tâm của mình rồi, còn dám nói rằng ta có biết, đau đớn thiệt.

Vương Dương Minh chủ trương đại khái như sau:
Sao thắc mắc, lo suốt ngày suốt buổi.
Sao học hành, bàn cãi mãi làm chi?
Bao nghi nan, mâu thuẫn của vấn đề,
Dùng trực giác, sẽ phá tan trong chốc lát.
Lòng người có chỉ nan từ sơ phát,
Trong lòng người, đã sẵn đấng muôn trùng.
Có mọi sự trong kho báu đầy lòng,
Sao ta vẫn ăn xin từng cửa ngõ ? 
c. Cư kính:
Kính sợ Trời như thể Trời có ẩn áo giáng lâm.
Khi đã tìm ra được Bản tâm, Bản tính, đã trực diện được với lương tâm đã hiểu được rằng Lương Tâm là Đạo, là Trời, lúc ấy người quân tử sẽ trở nên trang kính.
Sự trang kính ấy tùy từng giai đoạn sẽ có thể là:
- Kính sợ Trời như thể có Trời ẩn áo giáng lâm.
- Kính sợ Trời tiềm ẩn đáy lòng.
- Tự trọng vì nhận ra nơi mình cũng có bản thể thân minh y thức như nơi các bậc thánh hiền kim cổ.
- Trọng người, vì nhận ra được rằng người cũng có bản thể thần minh tương tự như mình.
Có kính, có trang kính, con người mới dễ dàng tu sửa tâm hồn cho hẳn hoi, ngay ngắn.
Chính vì thế mà Kinh Thi mới viết:
Chái Tây Bắc góc nhà thanh vắng,
Đừng làm chi đáng để hổ ngươi.
Đừng rằng tăm tối chơi vơi,
Đừng rằng tăm tối ai người thấy ta.
Thần giáng lâm ai mà hay biết,
Nên dám đâu khinh miệt, để ngươi?
(Kinh Thi, Đại Nhã, ức Thiên)
Trung Dung viết:
«Bản tính cũng chính là Thiên mệnh,
Đạo là nơi theo tính bản nhiên,
Giáo là cách giữ đạo nên,
Đạo Trời sau trước vẫn liền với ta.
Rời ta được đâu là đạo nữa.
Thế cho nên quân tử giữ gìn.
E dè cái mắt không nhìn.
Tai nghe không nỗi cho nên hãi hùng.
Càng ẩn áo lại càng hiện rõ
Càng siêu vi, càng tỏ sáng nhiều.
Nên dù chiếc bóng tịch liêu,
Đã là quân tử chẳng siêu lòng vàng.
Luận ngữ viết: «Ra khỏi nhà thì trang trọng như đón khách quí, Đối với dân, thì trang nghiêm như đang cử hành đại lễ.» (Luận Ngữ, XII, 2) (Xuất môn như kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế. 出 門 如 見 大 賓, 使 民 如 承 大 祭)
Quan niệm Kính Trời của Nho gia này về sau cũng đã được du nhập vào các tiểu thuyết Trung Hoa.
Đọc bộ truyện Thuận Trị quá giang, ta thấy ở ngay hồi đầu có câu:
Nhân gian tư ngữ Thiên văn như lôi,
Ám thất, khuy tâm, thần mục như diện.
Nhân gian thầm thì với nhau,
Trời nghe mồn một ngỡ đâu sấm rền.
Phòng riêng lòng trạnh nỗi niềm,
Trời nhìn tỏ rõ như in chớp lòa.
Trong truyện Phản Đường, có kể tích truyện sau:

Địch Nhân Kiệt, trên đường lai kinh ứng thí, đến huyện Lâm Thanh, vào quán trọ nghỉ ngơi. Đêm đến, có một quả phụ xinh đẹp đến gặp ông trong phòng ngủ, tống tình, nài ép chuyện trăng hoa. Địch Nhân Kiệt mới đầu cũng động tình, vì thấy nàng nọ nhan sắc diễm kiều, lại ăn nói mặn mà duyên dáng, nhưng sau ông chợt nghĩ đến câu Hoàng Thiên bất khả khi, nghĩa là không thể lừa dối Trời được nên ông đã làm một bài thơ khẳng khái cự tuyệt.

Ngày hôm sau ở kinh sư, Vua Đường Thái Tôn hỏi quân sư là Lý Thuần Phong xem kỳ này ai sẽ đỗ trạng nguyên. Lý Thuần Phong về nhà trai giới rồi thiếp đi để lên thiên đình xem bảng Trời. khi hoàn hồn, ông tâu cho vua biết: trên bảng trời có sáu chữ «Hỏa khuyển, nhị nhân chi Kiệt» 火 犬 二 人 之 傑 và bên cạnh bảng còn có một lá cờ có ghi một bài thơ tứ tuyệt. Ông chép lại bài thơ ấy dâng lên vua. Vua đem niêm phong cất đi, để chờ ứng nghiệm. Đến khi Địch đỗ trạng nguyên, vào triều bệ kiến, vua Đường Thái Tôn mới vỡ lẽ ra rằng sáu chữ mà Lý Thuần Phong chép trên Bảng Trời bữa trước chính là tên Địch Nhân Kiệt 狄 仁 傑 viết theo lối chiết tự, còn bài thơ tứ tuyệt thì chính là bài thơ mà Địch Nhân Kiệt đã làm trong quán vắng đêm nọ, để cự tuyệt với quả phụ kia. Vua tôi đều thất kinh. Mới hay đúng là Hoàng Thiên bất khả khi vậy.
d. Theo tiếng lương tâm, cải hóa tu tâm.

Sau khi đã nắm chắc được rằng: Lương tâm con người là Bản Tính, là Đạo, là Trời, là Thái Hư, là Thiên địa chi tính, là gương mẫu hoàn thiện, còn tu tâm là «khí chất chi tính» có thanh có trọc khác nhau, có hay có dở khác nhau, Nho gia liền ra công: Noi theo lương tâm, cải hóa tu tâm.
Công phu này được Nho gia gọi Chính tâm: làm cho tâm hồn trở nên ngay thẳng, hay là Hàm Dưỡng, hay là Tồn Tâm, Dưỡng Tính.
Chung qui chỉ là Biến hóa cái «khí chất chi tính» theo từ ngữ của Trương Hoành Cừ.
Biết biến hóa cái Khí chất chi tính, biết cải hóa cái tâm mình, tức là biết áp dụng lẽ Dịch vào phương pháp tu thân vậy.

Mà Dịch dạy chúng ta những gì; nếu không phải là:
- Hãy rũ bỏ những gì tư tà.
- Hãy hoành dương những gì công chính.
- Hãy bỏ nơi ti tiện, mà vươn lên đến chốn thanh cao.
- Hãy từ bỏ sự tối tăm mà trở về với ánh sáng.
- Hãy tài bồi những gì còn khuyết điểm để đi đến chỗ viên mãn tinh toàn.
- Hãy rũ bỏ phiền tạp mà trở về giản dị.
- Hãy tránh rối loạn và hãy sống trong qui tắc, trong trật tự…
Áp dụng những lẽ Dịch trên vào công cuộc tu thân, ta sẽ tìm ra được những đường lối, những tôn chỉ sau:
- Tâm ta dễ loạn động, phải biết giữ cho định tĩnh tâm ta dễ phá tán, cần phải biết thu nhiếp, biết tập trung.
- Tâm ta rất dễ bị ngoại vật làm cho hôn ám, cần phải giữ cho nó được thanh hư, quang sáng.
- Tâm ta thường khuy khuyết, phải lo tài bồi cho ngày thêm viên mãn.
- Lương tâm là công chính, là thiên lý hằng cửu bất biến: tư tâm là tà ngụy, là nhân dục biến thiên. Vì vậy ta cần phải sống theo sự công chính, theo thiên lý, theo những định luật vĩnh cửu của trời đất, và cố tránh những gì nhân vi, nhân tạo, biến thiên, chất chưởng.
- Hãy mở tầm kích tâm hồn cho nó được ngày một thêm bao la rộng rãi ngày một thêm khoan quảng, hòa đồng.
Sau khi đã dùng Dịch lý để tìm ra những tôn chỉ có thể dùng làm kim chỉ nam cho công cuộc tu thân, ta sẽ tìm xem Nho gia bàn về tu thân, chính tâm ra sao.
Luận Ngữ chủ trương: Khắc kỷ, phục lễ. Thế tức là con người cần phải theo thiên lý, mà sửa nhân tình; theo lương tâm mà sửa tư tâm. Như vậy là Nhân đức (Khắc kỷ phục lẽ vi nhân. Luận Ngữ XII, I)
Công Đô Tử hỏi Mạnh Tử: «Cũng đều là người, nhưng tại sao có người thành ra đại nhân, có kẻ hóa ra tiểu nhân?» Mạnh Tử đáp rằng: «Ai noi theo cái đại thể của mình thì là bậc đại nhân, ai noi theo cái tiểu thể của mình, thì là kẻ tiểu nhân.
Đối với Mạnh Tử, thì ngũ quan là phần tiểu thể, còn tâm hồn là phần đại thể. Cái bụng cái miệng là phần tiểu thể, còn cái phần tinh thần là phần đại thể .

Mạnh Tử cũng còn nói rằng: «Cây cối trên núi Ngưu Sơn (về phía Đông Nam nước Tề) ngày xưa vẫn tốt tươi. Nhưng vì ở về một chỗ giáp nối với một nước lớn, cho nên thường bị búa rìu (của những kẻ tiều phu) bửa đốn. Như vậy có thể nào giữ vẻ tốt tươi được chăng? Nhưng nhờ có sức mạnh nhựa lưu thông ngày đêm, lại được mưa, sương tẩm nhuận, cho nên mới đêm chồi mở mộng. Rồi thì bò chiên kéo nhau từng đoàn đến ăn phá. Vì vậy mà cảnh núi ấy trở nên trơ trọi. Hiện nay thấy nó trơ trọi, ai cũng ngỡ là núi ấy chưa từng sản xuất tài mộc, (tức là những cây to lớn dùng trong việc kiến trúc). Như thế, há nên đổ lỗi cho bản tính của núi sao?

Cái bản tánh tồn tại nơi người cũng thế. Người ta há chẳng có những nỗi lòng nhân nghĩa sao? Nhưng vì họ (mê sa theo các sở dục) mà buông mất tấm lòng lương thiện của họ đi, cũng như cảnh núi trở nên trơ trọi, vì cây cối đều bị búa rìu bửa đốn hết vậy. Mỗi ngày, họ cứ sát phạt tấm lòng lương thiện của họ mãi, thì lòng dạ họ có thế nào tốt đẹp như xưa chăng? Tuy vậy, cái sức lành từ nơi bản tánh của họ vẫn còn sanh nảy ngày đêm.

Cái khí lực ấy thật chẳng bao nhiêu, nhưng vào buổi sáng sớm, nó có thể phát sinh ra lòng thương ghét một cách phải thể gần giống với lòng người lương thiện. Rồi từ sáng cho đến chiều, trong mọi cử chỉ hành vi của họ, họ lại ngăn bít và bỏ phế tấm lòng lành rất yếu ớt của họ nữa. Ngày này tháng kia năm nọ, họ vẫn cứ ngăn bít và bỏ phế như vậy mãi, rồi ra cái khí lực về đêm đâu còn sức bảo tồn cho cái lòng lương thiện của họ khỏi tiêu ma. Khi mà cái khí lực về đêm chẳng còn đủ sức bảo tồn cho cái lòng lương thiện của họ khỏi tiêu ma, bấy giờ họ chẳng khác gì cầm thú bao nhiêu vậy. Thấy họ chẳng khác gì cầm thú, ai nấy đều ngỡ rằng họ chưa từng có những thiên bẩm tốt. Như vậy, há nên đổ lỗi cho chân tình, thật tánh của họ sao?

Cho nên nếu khéo bồi dưỡng, thì vật nào cũng sanh nảy thêm, còn như chẳng chịu bồi dưỡng, thì vật nào cũng phải tiêu mòn. Đức Khổng Tử có nói rằng: «Giữ thì còn, bỏ thì mất. Nó vào ra không chừng và không ai biết nó ở đâu». Đó là đức Khổng nói về những nỗi lòng lương thiện của con người vậy.» (Mạnh Tử, Lão Tử, chương cú thượng, câu 8. Mạnh Tử, Đoàn Trung Còn).

Trương Hoành Cừ (1020-1077) cho rằng: «Người ta sở dĩ không đem tâm hợp với Thái Hư được là vì để cho cái tính khí chất nó sai khiến. Vậy nên học giả phải lấy sự biến hóa khí chất làm mục đích cho sự học của mình.

Đồng Lai, Lữ Tổ Khiêm (1137-1181) ví sự tu thân như là cách chữa bệnh. Người mắc bệnh phải tìm cho rõ bệnh căn để chữa mới lành. Kẻ học đạo phải tìm cho thấy nhược điểm của mình để tài bồi mới được tấn ích. Vậy nên, đối với Đồng Lai, người muốn theo học thánh hiền, trước hết phải dùng công phu ở sự biến hóa khí chất của mình kẻ mà nhu nọa phải tập cho được cương cường, kẻ nóng nảy phải nên tập cho khoan hòa, cứ tìm chỗ thiên lệch mà dụng lực.

Theo Thượng Thái (1050-1103) thì thiên lý và nhân dục là hai lẽ tương đối; người ta có một phần nhân dục tức là diệt mất một phần thiên lý. Có một phần thiên lý tức là thắng được một phần nhân dục. Khi người ta đã trừ bỏ được tất cả dục vọng ở trong lòng, thì phần còn lại tức là Thiên lý. Bởi vậy đối với Thượng Thái, kẻ học đạo muốn được giác ngộ, không cần phải tìm những điều xa xôi hư phi chỉ biết khắc kỷ phục lẽ, để giữ toàn thiên lý là đủ .
Luận về phương pháp tu thân, Lục Tượng Sơn (1139-1192) đưa ra 4 cương lĩnh: Lập chí, tiến học, tri bản và thu thập tin thần.

Lập chí, tiến học trên đây ta đã bàn tới rồi. Tri bản là hiểu cho được bản thể của «tâm» rồi cố dùng công phu để trừ bỏ điều tư dục, cho tâm trở nên trừng triệt, thanh minh.

Sau khi tri bản, học giả nên tiến thêm một bước nữa là Thu thập tinh thần. Tượng Sơn bảo rằng: «Thu được tinh thần ở trong, đáng trắc ẩn thì trắc ẩn, đáng tu ố thì tu ố, ai khi được ngươi? Ai dối được ngươi» Phương pháp thu thập tinh thần của Tượng Sơn là ngồi thẳng chắp tay, tự làm chủ tế, tức muôn vật đều có đủ ở thân.Tượng Sơn thường dạy học giả nên tĩnh tọa để tồn bản tâm, không cần dùng lời biện thuyết vô ích.

e. Phương pháo kiểm chứng.

Trong công cuộc tu thân, cần phải biết xét mình, biết kiểm thảo, kiểm chứng.
Tăng Tử xưa đã lấy sự xét mình làm trọng. Ông nói: «Hằng ngày ta hay xét mình vô ba điều này:
- Làm việc cho ai, ta có hết lòng chăng?
- Kết giao với bằng hữu, ta có thành tín chăng.
- Đạo lý do thày ta truyền dạy, ta có học tập chăng?

Luận Ngữ cho ta phương pháp kiểm chứng thành quả như sau:
- Người trí không lầm.
- Người nhân không buồn.
- Người Dũng không sợ.

Luận Ngữ còn thêm rằng:
«Nếu ta xét mình mà chẳng thấy điều gì lầm lỗi, thì việc gì mà buồn, việc gì mà sợ?
Trung Dung, Đại Học, Mạnh Tử đều cho rằng: Có đức độ bên trong, sẽ thấy hiển lộ ra bên ngoài.
Trung Dung viết: «Hoàn thiện rồi sẽ phát hiện ra ngoài hình sắc.» (Trung Dung chương XXIII)
Đại Học cho rằng: «Giàu thời nhà cửa khang trang
Đức thời thân thể khang an, rạng ngời.
Lòng mà khoan quảng, thảnh thơi,
Rồi ra sẽ thấy tốt tươi hình hài.» (Đại Học, VI)
Mạnh Tử cho rằng: «Người quân tử lập chí ở đạo, nếu chưa thấy phát huy được đạo ra bên ngoài, thì chưa đạt đạo.» (Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú thượng, câu 24).
Như vậy, theo Nho giáo, nếu mỗi người mệnh danh là tu mà lời ăn tiếng nói còn thô lỗ, cục cằn, cách đi điệu đứng có tất tưởi lam lũ, sắc diện còn thảm đạm, ám hôn, cốt cách còn phàm phu ti tiện, chưa được trang nhã cao siêu, tinh thần còn ám hôn bì quyện chưa được quang minh, thanh sảng, thì chắc chắn rằng tâm hồn người ấy chưa được đẹp đẽ là bao nhiêu, kết quả tu trì của người ấy hãy còn ít ỏi, chưa đáng kể…
f. Mục đích tu thân của Nho giáo
Theo Nho giáo, tu thân không phải để tề gia trị quốc, bình thiên hạ không mà thôi, mà còn là để trở thành thánh hiền.
Nho giáo không muốn cho con người đứng lại nửa chừng trên con đường tu đạo, tinh tiến, vì thế Đại Học chỉ cho người lại khi đã tiến tới mức hoàn thiện.
Trong bài giải chương I Trung Dung, Chu Hi đã cho thấy rằng tất cả công phu tu thân, dưỡng, tồn, tỉnh, sát của người chính nhân quân tử đều có mục đích đưa tới chỗ «Thánh thân công hóa chi cực.»
Thánh nhân theo Nho giáo là mẫu người lý tưởng của Nhân loại, là những người thông minh duệ trí siêu phàm, là những người đã thể hiện được sự toàn thiện.
Chu Hi đã bình luận về Thánh Nhân như sau:
«Thánh nhân có một đời sống hoàn toàn phù hợp với thiên lý. Có thể nói được rằng thánh nhân được mệnh danh là Thành, chính vì đã sống cuộc đời hoàn toàn phù hợp với tính bản nhiên, với Thiên lý và vì vậy, đã phối hợp được với trời đất, đã sánh được với trời đất.
«Chu Liêm Khê cho rằng [20] chữ thành đồng nghĩa với chữ Thái Cực, với Lý. Thái Cực hay Lý ấy, bất kỳ ai cũng có, nhưng khi Thái Cực hay Lý đã lồng vào hình hài, khí chất không tinh tuyền, thì ảnh hưởng sẽ bị giới hạn lại. Chỉ có thánh nhân sống theo tính bổn thiện mình, nên thần trí người nhân định được hằng tính của mỗi vật, mỗi sự; ý chí người hướng vô chân, thiện mỹ không chút khó khăn và sống trong đường nhân, nẻo đúc, trong trật tự, trong bổn phận, không chút chi vất vả…
«Thánh nhân sở dĩ có cái nhìn tinh tế, thấu triệt, vì lòng không bợn tư tà, dục vọng, cho nên mới nhìn thấu đáo được những điều tinh vi huyền diệu.
«Thánh nhân vì không bị dục tình quấy nhiễu, nên lúc nào cũng ung dung, thanh thản. Thiên lý, thiên đạo được thể hiện nơi Ngài một cách sáng tỏ, để soi đường dẫn lối cho kẻ khác…
«Ảnh hưởng của Thánh nhân thực là vô biên như ảnh hưởng của Trời. Chu Hi nói: «Cũng y như xem bốn mùa vần xoay, xem vạn vật sinh hóa, thì biết được Thiên lý biến dịch khắp nơi mà chẳng cần Trời phải nói nên lời. Ở nơi thánh nhân cũng vậy, động hay tĩnh, nhất nhất đều khải minh nguyên lý huyền diệu; sự toàn thiện, tinh tuyền chứa sẵn nơi người». Và Chu Hi kết luận bằng những lời hào hứng như sau: Thánh nhân là hiện thân của Trời.» (Xem Stanislas le Call, Le Philosopche Tchou Hi, sa doctrine, son influence, p.63 và tiếp theo).
Trung Dung có rất nhiều chương nói về Thánh nhân. Ví dụ nơi chương XXXII, Trung Dung viết:
Chỉ những đấng chí thánh trong thiên hạ.
Mới có thể vì đời sang sửa đại kinh,
Mới có thể xây căn bản cho xã hội quần sinh.
Mới thấu rõ luật đất trời sinh hóa.
Những bậc ấy hết cần nương tựa,
Đức nhân ngài tuyệt thế,
Trí tuệ Ngài thâm uyên.
Tâm hồn Ngài mang nhiên,
Nên trừ phi bậc thông minh duệ trí,
Trừ những ai đạt đức Trời tuyệt mỹ,
Ai là người hiểu nổi được khúc nhôi…
Dịch Kinh bình luận về Thánh nhân như sau:
«Đại nhân đức hạnh bao la,
Như trời, như đất cao xa muôn trùng.
Sáng như nguyệt hai vừng,
Sống đời tiết tất hợp khung bốn mùa.
Những điều lành dữ, ghét ưa,
Quỉ thần đường lối đem so khác nào.
Trước Trời, Trời chẳng trách đâu,
Sau Trời cho hợp cơ màu thời gian.
Trời không trách cứ phàn nàn,
Thời người còn dám than van nỗi gì?
Trời người chẳng trách, chẳng chê,
Quỉ thần âu cũng chẳng hồ oán than.
(Kinh Dịch, quẽ Kiền, Văn ngôn hào Cửu ngũ).

TỔNG LUẬN

Để thâu tóm lại tất cả quan niệm về Tu thân theo Nho gia, ta có thể mượn lại những lời lẽ giản dị của Trung Dung và của Mạnh Tử.
Trung Dung chương XX viết:
Muốn thông thái, không ngoài học vấn,
Muốn tu Nhân, phải gắng công lao.
Muốn nên hùng dũng anh hào,
Ai câu liêm sĩ ghi vào thân tâm.
TRÍ, NHÂN, DŨNG tu thân ấy lý,
Biết tu thân ắt trị nổi người.
Trị người, hiểu biết khúc nhôi,
Con thuyền thiên hạ âu tài đẩy đưa…
Trung Dung chương XI viết:
Tìm bí ẩn làm điều quái dị,
Cốt mong cho hậu thế ngợi khen
(Xá chi chuyện ấy nhỏ nhen)
Đã là quân tử chẳng thèm quan tâm.
(Làm trai quyết chí tu thân).
Đường đường quân tử ta tuân đạo trời.
Giữa đường dứt gánh trở lui,
Bán đồ nhi phế có đời nào đâu!
Trung Dung quân tử trước sau,
Dẫu không tăm tiếng không rầu lòng ai.
Thánh nhân ấy thánh nhân rồi.
Mạnh Tử viết trong Thiên Tận Tâm chương cú thượng:

Thấu triệt lòng sẽ hay biết Tính,
Hay biết Tính, nhất định biết Trời.
Tồn tâm dưỡng tính chẳng rời,
Đó là giữ đạo thời Trời chẳng sai.
Yểu hay thọ không thay lòng dạ,
Cứ tu thân một thủa đợi Ngài
Đó là theo đúng mệnh Trời…
Mệnh Trời đó chớ rời gang tấc,
Theo ý Trời ta chắc không sai.
Cho nên kẻ biết mệnh Trời,
Tường long vách lở là nơi chẳng gần.
Sống trọn đạo đến cùng rồi chất,
Thế là theo đúng hết mệnh trời.
Gông cùm chết uổng một đời,
Ấy đâu phải chính ý Trời muốn đâu.
Muốn có Ngài tìm cầu sẽ có,
Muốn mất Ngài cứ bỏ Ngài đi.
Những điều lợi ích tinh vi,
Lòng ta ta kiếm, ta đi ta tìm.
Tìm cầu Ngài ta liền có đạo,
Có được Ngài trọn hảo mệnh trời.
Tìm điều vật chất bên ngoài,
Ngoài mình tìm kiếm sẽ hoài mất công.
Cả vạn vật ở trong ta đó,
Quay về ta ta cố tinh thành.
Kiên toàn hoàn thiện tinh anh,
Vui nào hơn được vui mình đang vui…
Cố đối với mọi người tử tế,
Muốn tìm Nhân, ấy thế là Nhân.
Vẫn mang Ngài mà thân chẳng hiển,
Vì quá quen nên khiến chẳng suy.
Suốt đời Ngài độ ta đi,
Nhưng mà dung tục biết chi đạo Ngài …
Nói giản dị, vắn tắt hơn, ta thấy rằng Nho gia chỉ dạy con người, khử nhân dục, tồn thiên lý.
Mà khử nhân dục là:

  • Đừng bao giờ làm những điều tà khuất, đừng bao giờ suy niệm những gì tà khuất.
  • Đừng làm gì hại mình, hại người.
  • Đừng làm gì đến nỗi phải che dấu đậy điệm.
  • Đừng làm gì khiến cho mình phải hối hận, phải phàn nàn, phải xấu hổ.
  • Còn tồn thiên lý là:
  • Làm những điều quang minh công chính, suy nghĩ những điều thanh tao, đẹp đẽ.
  • Làm những điều ích mình, ích người.
  • Làm những việc mà mình có thể làm được nơi thanh thiên, bạch nhật, nơi mọi người có thể trông thấy, nghe thấy, mà mình không vì thế mà phải xấu hổ, hối hận, phàn nàn.
Nói cho vắn tắt hơn nữa, ta thấy Nho gia chỉ dạy con người sống đúng theo tiếng gọi của Lương Tâm.
Giờ đây, chúng ta có thể dựa vào những tiêu chuẩn về tu thân nói trên của Nho giáo để kiểm điểm lại xem tại sao chúng ta chưa tiến được bao lăm trên đường nhân nẻo đức.
- Trước hết là vì chúng ta thiếu lập chí cho hẳn hoi. Chúng ta đã không có gan dám lập chí để thành thánh hiền.
- Hai là vì chúng ta đã không dốc tâm cầu đạo, không cố gắng học hỏi suy tư hết mình.
Những người thế gian cầu công danh lợi lộc có thể học hành, có thể làm lụng suốt ngày đêm, đến quên ăn quên ngủ, thế mà những con người cầu đạo lại chưa hề say đạo đến mức độ quên ngủ quên ăn để học hỏi suy tư.
Học hành phất phới làm sao mà khai trí, phát huệ?
- Ba là vì chúng ta chẳng nhiều thì ít đã đánh mất bản tâm, đã đánh rơi đánh mất lương tâm mà chẳng biết tìm nó lại.

Chúng ta có thể có một sự hiểu biết rất sâu rộng về các đạo giáo, các triết thuyết, các phép tu, lối luyện đông tây, ấy thế nhưng lại có một sự hiểu biết hết sức là nông cạn hời hợt về con người, về bản thân chúng ta. Ta tưởng rằng tâm ta chỉ toàn có những tình cảm vụn vặt, những niệm lự phù phiếm, những tình dục hư hèn, mà chẳng có gì là tinh hoa cao đại. Bao nhiêu cái hay cái đẹp mà ta hiện có trong tâm trí, là của xã hội bên ngoài, đạo giáo bên ngoài đổ vào.

Chúng ta chỉ chú trọng đến những tiếng khen chê của thế nhân bên ngoài, mà không chú trọng đến lời khen chê của Thần Lương Tâm bên trong. Chúng ta cho rằng Lương tâm có thể sai lầm, còn những vị lãnh đạo chính trị, xã hội, đạo giáo bên ngoài của chúng ta, mới thần thông quảng đại, không thể sai lầm.
Thế là mặc nhiên, chúng ta đã bị các tổ chức xã hội, chính trị đạo giáo bên ngoài moi móc mất chân tâm, làm lạc lõng mất chân tâm. Mà đã bị moi móc mất chân tâm rồi, thì dẫu trung nghĩa như Tỉ Can, chúng ta làm sao mà sống đời, sống đạo một cách đích thực được? Chính vì đã đánh mất chân tâm, cho nên nhiều khi chúng ta trở nên vẩn vơ, phờ phạc, bần thần, hoang mang, ngơ ngác, u muội, đành lòng để cho ngoại cảnh cuốn lôi, như những chiếc lá khô trước muôn cơn gió lốc.
Vì vậy, trong công trình tu đạo, điều cần thiết là phải tìm lại lương tâm, tin vào lương tâm, nghe theo lương tâm, sống theo lương tâm, làm hòa với lương tâm …
- Bốn là vì chúng ta đã không sống gần Trời, sống với Trời. chúng ta đã để cho Trời sống trên các từng trời cao thẳm, hay trong các đền đài, miếu mạo u linh, mà chẳng cho Trời sống trong đền thờ tâm hồn chúng ta. Và như vậy chúng ta đã mất một người hướng dẫn chân thành nhất, sáng suốt nhất, tài năng nhất.
- Năm là vì chúng ta không biết đặt trọng tâm cải thiện tâm tư mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mà coi đạo giáo như là một cuộc hành xác phũ phàng, như là một cuộc mặc cả bán buôn, điều đình giữa ta và Trời. Tại sao chúng ta hằng ngày biết tắm rửa, làm sạch, làm đẹp cho xác thân, mà lại quên chuyện sang sửa chỉnh trang lại tâm hồn chúng ta? Sao chúng ta lại trọng vật mà khinh hồn đến như thế vậy?
Khảo lại quan niệm tu thân theo Nho gia, ta thấy nó rất là trong sáng, rất là giản dị.
Các bậc thánh hiền Nho giáo trước sau chỉ khuyên chúng ta:
- Lập chí cho cao siêu, lập chí trở thành thánh hiền.
- Sống theo lương tâm.
- Cố gắng cải thiện nội tâm.
- Cố gắng học hỏi suy tư để tiến dần tới Chân Thiện Mỹ.
Ước gì quan niệm về tu thân theo Nho giáo sẽ góp phần làm bừng cháy lên ngọn lửa Thiên chân hiện còn đang âm ỉ, nhen nhúm trong lòng chúng ta và nhắc nhớ chúng ta bổn phận then chốt của cuộc đời đó là cố gắng tu thân để tiến tới Chân, Thiện, Mỹ.
Ước gì chúng ta hết thảy tìm lại được Bản tính Trời nơi ta.
Ước gì chúng ta luôn sống như trực diện với Thiên Nhan.
Ước gì chúng ta luôn sống theo tiếng gọi lương tâm.
Ước gì chúng ta trở nên những hiện thân của Thượng đế, nên những mẫu người lý tưởng, thể hiện được Chân Thiện Mỹ cho đến mức toàn vẹn. Mong lắm thay
Chi Tiết

Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín

NHÂN

Thời nào cũng vậy, chữ nhân luôn đặt lên hàng đầu, là quan trọng hơn cả, nó đã là bao quát, là đạo làm người. Dù thời xưa hay thời nay chữ nhân đó vẫn thể hiện trong cách sống của mỗi con người. Cách đối nhân xử thế, tấm lòng của con người giữa đời thường, cũng như vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội.
Chữ nhân trong mỗi người không chỉ là một tấm lòng, tấm lòng yêu thương con người, quê hương đất nước mà còn biết gắn cái riêng của mình vào cái chung của xã hội hiện tại, với sự ràng buộc giữa người với người, bằng những mối liên quan gắn kết.


NGHĨA

Muốn thực hành chữ nghĩa, thì phải noi theo câu: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhơn”. Những việc gì ta chẳng muốn ai làm cho ta chịu đau khổ thảm sầu thì ta không nên đem các điều ấy mà làm cho người khác, mới là trọn nghĩa.

Chữ nghĩa bao hàm rất lớn thay. Như là nghĩa cha con, nghĩa thầy trò, nghĩa chồng vợ, nghĩa anh em cốt nhục đồng-bào, nghĩa bằng hữu chi giao, ấy là ngũ-luân chi đạo. Mọi sự đều phải có nghĩa, thì mới đủ tư-cách làm người cao trọng.
Chữ nhân và chữ nghĩa thường đi đôi với nhau, cho nên trong Kinh Sám Hối có 4 câu dạy rằng:

Làm người nhân-nghĩa xử xong,
Rủi cho gặp lúc long-đong chẳng sờn.
Làm người nhân-nghĩa giữ tròn,
Muôn năm bóng khuất tiếng còn bay xa.

Nghĩa ở đây thể hiện vai trò, trách nhiệm của con người với người, giữa người với đời, với xã hội hiện tại. Sống ở đời cần có một trách nhiệm với đời, cũng chính vì vậy mà cần có nghĩa, sống có trách nhiệm với quê hương đất nước, với gia đình, với anh em bằng hữu cũng là nghĩa. Biết trả ơn khi mình đã nhận được những điều may mắn trong cuộc sống – đó cũng là nghĩa. Tại sao có nhiều người luôn biết quan tâm giúp đỡ mọi người trong xã hội, làm từ thiện tri ân với đời… cũng vì họ sống có nghĩa với đời, với cuộc sống hiện tại, họ biết cho khi đã nhận.
Nghĩa cũng là sống cho mọi người chứ không chỉ sống cho riêng cá nhân mình.

LỄ

Xem qua cách hành xử, ứng xử cùng với những nghi thức, lễ nghi đúng thủ tục, hợp lòng người trong cuộc sống đương thời mà qua đó xã hội đánh giá đến sự hiểu biết của một cá nhân, phải đạo với trời đất, hợp đạo với đời.

Con người có thể sống cao thượng, phẩm giá được tôn quí là do nơi biết giữ lễ, còn bị tội lỗi làm mất tư-cách con người, thiên-hạ chê bai khinh bỉ nhục-nhã, là do nơi thất lễ.

Nếu đánh giá một con người, một gia đình mà chỉ xét qua cách hành lễ nghi thôi không xét về nghĩa thì quả là thiếu sót. Bởi có nhiều người trong xã hội hàng ngày hành sự có thừa lễ nghi nhưng nghĩa thì lại thiếu.

TRÍ

Nếu muốn làm được việc nghĩa thì phải có trí, phải có một sự hiểu biết nhất định ở xã hội. Có nhân, có nghĩa mà không có trí thì chẳng khác nào một người lính ra trận chỉ có áo giáp mà không có gươm, đao, chỉ bảo vệ được mình mà không bảo vê được người khác. Sống ở đời nếu chỉ sống cho riêng ta thì đơn giản quá, mà muốn giúp đỡ được người khác tất mình phải có tài, có hiểu biết.

Trí là một sự hiểu biết, người không trí, không hiểu biết thì quả là một thiệt thòi lớn, có thể nói người không trí không làm được gì cả. Nếu như ngày xưa đánh giá chữ trí của một con người qua sự hiểu biết về đạo quân tử, triết lý Khổng giáo, Lão giáo hay Phật giáo thì ngày nay ngoài sự hiểu biết về lĩnh vực văn hóa xã hội, triết học thì cần có một sự hiểu biết về khoa học tự nhiên, bước sang thế kỷ XXI, với cuộc sống hiện đại, thông tin chóng mặt thì điều đó là cần thiết. Hiểu biết nhiều có thể làm được nhiều việc có ích với đời nếu người đó có nhân, có nghĩa trong tâm.

TÍN

Chữ tín là bằng hữu của uy tín, thủy chung trước sau như một, không thay lòng đổi dạ, dù hứa hẹn một việc nhỏ cũng chẳng sai lời, mới gọi là người biết giữ uy tín.

Chữ tín trong cuộc sống hàng ngày rất quan trọng, dù thời xưa hay thời nay thì sống ở đời mọi người cũng cần có một uy tín nhất định trong quan hệ với mọi người xung quanh. Thời xưa cái uy tín với bạn bè luôn được đánh giá cao, uy tín đó sẽ gây dựng được lòng tin, mọi người tin tưởng sẽ dễ dàng được mọi người giúp đỡ trong cuộc sống. Nói thì phải làm, sống trung thực với mọi người, với bản thân.

Ngày nay cũng vậy cho dù anh có tài nhưng không có được uy tín thì cũng chẳng ai theo, muốn được người khác giúp đỡ thì bản thân mình phải giữ được lòng tin trước mọi người, chưa nói đến trong quan hệ làm ăn ở xã hội, chữ tín cái uy tín trong công việc luôn đặt lên hàng đầu, quyết định đến sự thành công.
Nói chung, Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín luôn có sự gắn kết với nhau, làm con người mà thiếu đi một cũng không được. Như bài thơ sau:

Người không có Nhân thì sẽ thành kẻ độc ác.
Người không có Nghĩa thì sẽ thành kẻ bội bạc.
Người không có Lễ thì sẽ thành kẻ vô phép.
Người không có Trí thì sẽ thành kẻ ngu ngốc.
Người không có Tín thì sẽ thành kẻ giả dối.
Chi Tiết

Sự du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo


I – Học thuyết Nho giáo, quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam:

1- Sơ lược về học thuyết Nho giáo

Trung Quốc là trung tâm văn hoá lớn của nhân loại trong thời kỳ cổ trung đại trãi qua gần bốn mươi thế kỷ phát triển liên tục, lịch sử triết học Trung Quốc bao hàm nội dung vô cùng phong phú với những hệ thống triết học đồ sộ và sâu sắc.

Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc thời cổ đại đó là những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức, thể chế cai trị vốn đã có cơ sở ở Trung Quốc từ thời Tây Chu, đến cuối thời Xuân Thu (TKXI-TKV TCN) thì được Khổng Tử (551-479TCN) và các môn đệ của Ông là Mạnh Tử (372-289 TCN) và Tuân Tử ( 313 -238 TCN) hệ thống hóa ổn định lại trong hai bộ kinh điển là Tứ Thư và Ngũ Kinh.

Tứ Thư gồm : Luận ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử, bộ sách này do các học trò của Khổng Tử đã tập hợp những lời dạy của thầy mà soạn ra.

Ngũ Kinh[2]gồm: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.

Nội dung bộ sách này phần lớn có từ trước được Khổng Tử gia công san định, hiệu đính và giải thích. Do Khổng Tử có công đầu trong việc phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và truyền bá nên ông được xem là người sáng lập Nho giáo.

Nho giáo từ Khổng Tử đến Mạnh Tử được coi là giai đoạn hình thành, giai đoạn này được coi là Nho giáo nguyên thuỷ.

Năm 221TCN Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc và áp dụng chính sách cai trị bằng pháp luật độc đoán khắt nghiệt đã dùng bạo lực tiêu diệt Nho giáo.

Khi Hán Vũ Đế lên ngôi (140-87 TCN), đã thực hiện những chính sách quan trọng, thực hiện theo lời khuyên của Đổng Trọng Thư, khôi phục Nho giáo và đưa Nho giáo lên địa vị Quốc giáo .

Nho giáo đời Hán (Hán Nho) đã được cải tạo, biến đổi, nhằm mục đích phục vụ vương triều.

Do đó từ đời Hán Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hoá Trung Quốc và làm nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ phong kiến Trung Quốc suốt hai ngàn  năm lịch sử.

Ba cương lĩnh cơ bản của Nho giáo (Tam cương ) là:

                                         - Đạo vua tôi  (quân thần)

                                          - Đạo cha con (phụ tử)

                                        - Đạo vợ chồng (phu phụ)

Năm phép ứng xử luân lý và đạo đức (Ngũ thường ) Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín

Hạt nhân tư tưởng của triết học Nho giáo là Nhân và Lễ.

Nho giáo coi chữ Nhân là đạo đức hoàn thiện nhất “Nhân dã, Nhân giả” (kẻ có nhân ấy, ấy là con người vậy) “nhân giả ái nhân” (người có nhân thì yêu con người)

Để đạt chữ nhân, Khổng Tử chủ trương dùng lễ nhà Chu (Chu lễ) “Nhất nhật Khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên”(một ngày biết nén mình theo lễ thì thiên hạ quy về nhân vậy). Nhà Nho đã từ hai chữ nhân và lễ mà suy diễn ra cả một hệ thống triết học chính trị, triết học đạo đức và triết học lịch sử.

Trên cơ sở những tư tưởng triết học ấy đã hình thành mẫu người của Nho giáo là người quân tử mà lý tưởng sống được thể hiện tập trung trong một hệ thống quan niệm về tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ.

Giữa Khổng Tử và các học trò của Ông có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí mâu thuẩn với nhau như  “Quan điểm về thế giới” nhưng nhìn chung có sự thống nhất.  Sự thống nhất đó thể hiện ở hệ thống quan điểm về đạo đức luân lý, chính trị - xã hội, trong đó có sự thống nhất về các giá trị đạo đức, các mối quan hệ con người (ngũ luân), trật tự đẳng cấp xã hội (chủ trương chính sách), sự tất yếu của chính quyền.

Trong triết học của Nho giáo với nội dung đạo đức, luân lý phong phú, thống nhất với nhau và thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đây có lẽ là thành quả rực rỡ nhất trong triết lý nhân sinh và có nhiều đóng góp hữu ích vào việc hoàn thiện và làm phong phú kho tàng lý luận giáo dục đạo đức của nhân loại.

Do hạn chế về mặt lịch sử, triết học Khổng Tử chứa đựng các mâu thuẩn giằng co, đan xen giữa những yếu tố duy vật, vô thần với những yếu tố duy tâm, giữa những tư tưởng tiến bộ với những quan điểm bảo thủ, phản ánh tâm trạng giằng xé của Ông trước biến chuyển của thời cuộc. Tính không nhất quán ấy là cơ sở để các thế hệ sau khai thác, bóp méo theo khuynh hướng duy tâm, tôn giáo thần bí. Về mặt chính trị xã hội, Ông dừng lại trong lĩnh vực đạo đức, luân lý, không chú ý đến lĩnh vực sản xuất kinh tế và nhu cầu của con người là cơ sở để phát triển của xã hội.

Tư tưởng Mạnh Tử tuy còn nhiều yếu tố duy tâm thần bí, nhưng với tư tưởng dân quyền, “nhân chính”, “bảo dân”… có ý nghĩa tiến bộ, phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của lịch sử xã hội đương thời.

Tư tưởng của Tuân Tử có quan điểm duy vật về thế giới, nhưng khi lý giải về những vấn đề xã hội có nhiều yếu tố duy tâm, thiếu khách quan khoa học vì liên hệ mật thiết với giai cấp địa chủ mới và cung cấp cho giai cấp này căn cứ lý luận Với học thuyết “Chính danh định mệnh” làm cho con người chấp nhận sự tồn tại lâu dài của chế độ phong kiến, là nguyên nhân của sự trì trệ, chậm phát triển của các nước phuơng Đông.

Quan hệ của con người trong Tam cương có tính phiến diện. Mặc dù Nho giáo có nói đến nghĩa vụ và cách đối xử của hai bên, nhưng thực tế thì trước sau chỉ lên án những kẻ làm tôi, làm con, làm vợ mà thôi. Thực tế đó là mối quan hệ độc đoán một chiều. Hơn nữa, quy toàn bộ quan hệ xã hội của con người vào Tam cương, Ngũ thường là không đủ, Đặc biệt Nho giáo coi thường người phụ nữ, đã quy định trói buộc người phụ nữ vào người đàn ông (coi trọng nam khinh nữ).

2. Quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam :

 °Định nghĩa văn hóa :

Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa với nhiều phạm vi khác nhau trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn lịch sử (văn hóa Đông Sơn).

Định nghĩa văn hóa trong các từ điển hầu hết mở đầu bằng câu : “Văn hóa là tập hợp của các giá trị…” ủy ban UNESCO của liên hợp quốc thì xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo dục, tức đặt hai lĩnh vực này ra ngoài khái niệm văn hóa, và đã định nghĩa văn hóa như sau : “ Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng – diện mạo tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm … Khắc họa lên bản sắc một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống tín ngưỡng …”

Theo Triết học Macxít thì : “Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của xã hội mà loài người đạt được, bao gồm quan hệ con người với tự nhiên và xã hội, cả sự phát triển sáng tạo và khả năng của cá nhân”.

Phó giáo sư – Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm đã tổng kết và đưa ra định nghĩa văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.

Định nghĩa vừa nêu trên có dụng  ý chỉ ra bốn đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa đó là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh.

Văn hóa còn đặc trưng cho nhận thức và hành vi của con người trong những lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội, bao gồm : Văn hóa lao động, văn hóa nghệ thuật, văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử …

Văn hóa là một yếu tố nằm trong thượng tầng kiến trúc xã hội. Có thể chia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần tương ứng với hai dạng sản xuất cơ bản đó là : Sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần.

Ta thấy khái niệm văn hóa có mặt trong mọi phạm vi xã hội và gắn liền với một xã hội, một dân tộc, một cộng đồng và một cá thể trong từng thời  điểm lịch sử nhất định. Văn hóa là một nhân tố chủ quan của con người tác động trở lại quá trình phát triển khách quan của lịch sử. Ngày nay nhân tố con người ngày càng trở nên quan trọng, nhất là trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

°Quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo việt nam :

•Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo được du nhập vào Việt nam từ lâu và đã có vai trò đáng kể trong đời sống tinh thần của nhân dân. Những trào lưu ấy được cải biến cho phù hợp với truyền thống văn hóa của nhân dân và nhu cầu của đất nước và đã trở thành nhân tố của nền văn hóa và hệ tư tưởng thống trị ở Việt Nam. Nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam không thể tách rời nó với truyền thống Việt Nam.

 • Nho giáo ở dạng Hán nho được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Lý Thiện, Sĩ Nhiếp.. tích cực truyền bá từ công nguyên. Nhưng Phật giáo đã có ưu thế hơn Nho giáo rất nhiều. Trong khi Nho giáo chỉ dừng lại ở tầng lớp quan lại xung quanh chính quyền ngoại bang thì Phật giáo đã thâm nhập vào các tầng lớp nhân dân ở mọi miền đất nước. Có thể nói rằng suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam.

• Đến thời Lý, với sự kiện Lý Thái Tổ cho xây cất Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử (1076), mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức. Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho (Nhà Lý cùng thời với nhà Tống ở Trung Hoa) chứ không phải Hán Nho, Đường Nho…

• Vào năm 1232 vua Trần đã đặt ra học vị đầu tiên cho thi cử Nho giáo ở nước ta, đó là học vị Thái học sinh (về sau đổi thành tiến sĩ) và có Chu Văn An đỗ thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học, đào tạo được khá đông học trò. Các nhà Nho thời kỳ này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, đến cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi. (Không cứ gì ở nơi nông thôn, ngay ở chốn triều đình, các tập tục, lề lối của khuôn mẫu Nho giáo cũng rất xa lạ với ta. Một lần có người đề nghị cải tổ triều đình theo khuôn mẫu Phương Bắc đã bị vua Trần cự tuyệt và nói rằng ta có cách của ta).

•Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, các nhà Nho, đứng đầu là Nguyễn Trãi, tập hợp dưới ngọn cờ của Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Với sự lớn mạnh của Nho giáo Việt nam, với nhu cầu cải cách đất nước đã dẫn đến việc triều Lê chủ động đưa Nho giáo thành Quốc giáo; Nho giáo giữ địa vị độc tôn. Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của các triều đại phong kiến. Nhà Nguyễn lên cầm quyền, địa vị của Nho giáo một lần nữa khẳng định để rồi tàn lụi dần khi phải đối mặt với sự tấn công của văn hóa phương Tây.

II - Sự tiếp thu Nho giáo trên cơ sở truyền thống văn hóa Việt Nam :

 Nét độc đáo của văn hoá Việt Nam là khi tiếp thu cái ngoại lai, nó tiếp nhận từng yếu tố riêng lẻ và Việt Nam hoá để rồi cấu tạo lại theo cách của mình.

Nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo chính là để khai thác những yếu tố là thế mạnh của Nho giáo, thích hợp cho việc tổ chức và quản lý đất nước.

Trước hết nhà nước quân chủ Việt Nam đặc biệt là các triều Lê, Nguyễn đã học tập rất nhiều ở cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật, hệ thống thi cử để chọn người tài bổ dụng, trong bộ máy cai trị đã được triều đình phong kiến Việt Nam vận dụng ngay từ đầu thời Lý hoàn thiện dần ở thời Trần và hoàn chỉnh vào thời Lê. Chữ cổ đã mai một và mất hẳn thì người Việt sử dụng chữ Hán (chữ Nho) làm văn tự chính thức trong giao dịch hành chính, trên cơ sở chữ Hán, từ cuối thời Bắc thuộc, người Việt đã tạo ra chữ Nôm dùng trong sáng tác văn chương. Thời Tây Sơn vua Quang Trung đã mở rộng sử dụng chữ Nôm trong lĩnh vực hành chính và giáo dục.

Có rất nhiều yếu tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã biến đổi cho phù hợp với truyền thống của văn hoá dân tộc tức là: “Chữ nghĩa nó vẫn thế nhưng cách hiểu thì đã khác nhiều”.


Chữ Nhân, Lễ ,trí, dũng .

Xin nhắc lại đôi nét về chữ Nhân trong triết học Khổng Tử: Tinh thần chủ yếu của chử Nhân chính là lòng thương người, là cách sống đối với mình, đối với người:

“Mình muốn lập thân thì cũng giúp cho người khác lập thân; Mình muốn thành đạt thì cũng giúp cho người thành đạt, những gì mình không muốn thì chớ đem đối xử với người” (kỷ sở bất dục,vật thị ư nhân)…    

Khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam chữ Nhân được người Việt Nam rất tâm đắc và nó trở thành truyền thống tốt đẹp bao đời nay của dân tộc ta.

Trong xã hội ngày nay nó vẫn được coi trọng và thể hiện qua cách hiểu và cách sống: “Mình vì mọi người ,mọi người vì mình” Các phong trào thực hiện nếp sống văn minh, văn hoá, phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn thực hiện gia đình văn hoá “Ôngbà, cha mẹ mẫu mực con cháu thảo hiền”…Các nghĩa cử tương thân tương ái trong xã hội như “ Lá lành đùm lá rách”… Đó chính là biểu hiện  tốt đẹp của chữ Nhân trong cả phạm vi rộng và hẹp của xã hội ngày nay.

Xưa kia theo quan niệm đạo đức Nho giáo thì người quân tử, người cai trị phải có đầy đủ các đức tính như: Nhân, Lễ, Nghĩa,Trí, Tín,Dũng…

Chữ Nhân phải gắn liền với chữ Lễ trong việc tu thân, học đạo để sửa mình để trị nước, muốn đạt được đức Nhân thì cần phải rất mực chú trọng đến chữ Lễ.Theo Khổng Tử Lễ chính là những quy phạm, những nguyên tắc đạo đức của nhà Chu: Vua cho ra vua, tôi cho tôi, cha cho ra cha, con cho ra con…phải dùng lễ để khôi phục trật tự, phép tắc luân lý xã, khiến mọi người phải trở về đạo và nhân, trở thành chính danh.. Lễ và Nhân là hai yếu tố có quan hệ mật thiết không thể tách rời nhau; Nhân là chất, là nội dung là linh hồn của lễ, lễ là hình thức biểu hiện của Nhân.

Người muốn đạt được đức Nhân, theo Khổng Tử, phải là người có Trí và Dũng.

Nhờ có Trí con người mới sáng suốt,minh mẫn để hiểu biết  đạo lý,xét đoán được sự vịêc, phân được phải trái, thiện ác để trao dồi đạo đức và hành động hợp lý với thiên lý.Nhưng muốn đạt được chữ Nhân,có trí thôi chưa đủ mà cần phải có dũng,dũng không phải ỷ vào sức mạnh, chỉ biết vì lợi ích cá nhân mà suy nghĩ và hành động bất chấp cả đạo lý.Người Nhân có Dũng phải là: “ Người có thể tỏ rõ ý kiến mình một cách cao minh,có thể hành động một cách thanh cao khi vận nước loạn lạc,khi người đời gặp phải hoạn nạn…” Ngưới Nhân có Dũng mới làm chủ được mình,mới quả cảm xả thân vì Nhân Nghĩa mới có thể “Lập thân” và “ Đạt Nhân”;Khi gặp cơn thiếu thốn,cực khổ không nao núng làm mất nhân cách của mình;khi đầy đủ, sung túc không ngã nghiêng xa rời đạo lý hơn người Nhân có Dũng sẽ sẵn sàng “Vì Nhân mà sát thân ,chứ không giữ mạng sống của mình mà hại Nhân”.

Cùng với Nhân, Trí , Dũng, thì Nhạc, Thi, Thư cũng là phương tiện để giáo hóa con người góp phần ổn định và phát triển xã hội . Nhạc chính trực. trang nghiêm, hoà nhã có tác dụng di dưỡng tính tình cảm hoá lòng người, hướng tâm người ta tới cái chân, thiện, mỹ do sự ứng cảm trong tâm tư với sự hài hoà của âm nhạc.

Khổng Tử cho rằng: “Hưng khởi là nhờ thi tạo lập là nhờ lễ, thành đạt là nhờ nhạc…”

Như vậy chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: Người cai trị, người quân tử phải là người có một vốn văn hoá toàn diện.

Ngày nay, những điều đó được thể hiện ở quan điểm toàn diện trong giáo dục và đào tạo.Trong đạo đức của xã hội, và nó được thể hiện rất đầy đủ trong chữ Tài và Đức, Hồng và Chuyên. Hồ chủ tịch dạy.

... “Người có tài mà không có đức là người vô dụng. Người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”.

Tư tưởng Nhân chính, Bảo dân.

 Mạnh Tử là người kế thừa chính thống học thuyết của Khổng Tử. Trên cơ sở học thuyết về “tính thiện’’ và “Nhân trị”  của Khổng Tử, Ông đề ra tư tưởng “Nhân chính” trong phương pháp trị nước. Đặc biệt Ông có quan niệm mới mẻ và hết sức sâu sắc về vấn đề dân quyền:

                    … “Dân di quý, xã tắc thứ chi quân vi khinh”

Vì theo Ông, có dân mới có nước, có nước mới có vua thậm chí dân quan trọng hơn vua.Nếu không có sự ủng hộ của dân, thì chế độ sớm muộn sẽ sụp đổ; Vua nếu không hợp lòng dân và ý trời, thì trước sau cũng sẽ bị phế bỏ…

Mạnh Tử cũng chủ trương một chế độ “Bảo dân’’ người cai trị phải lo cái lo của dân,vui cái vui của dân,tạo cho dân của cải ruộng đất, sản nghiệp và cuộc sống bình yên no đủ.Việc vua Nghiêu,Vua Thuấn được thiên hạ là do được lòng dân. Còn Vua Kiệt,Vua Trụ mất thiên hạ là do mất lòng dân.

Học thuyết về chính trị, xã hội với tư tưởng nhân chính, bảo dân có ý nghĩa tiến bộ phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của lực lượng xã hội. Chính vì vậy một số học giả coi Mạnh Tử là người có tư tưởng dân chủ.

Từ mấy trăm năm trước, Nguyễn Trãi cũng từng nói :

   … “ Lật thuyền mới biết dân như nước”

Cách đây vài mươi năm, đồng chí Trường Chinh một trong những vị lãnh đạo cao cấp của Đảng cũng đã chỉ ra rằng phải lấy dân làm gốc trong sự nghiệp đổi mới…

 Thuyết chính danh

Thuyết chính danh xưa của Nho gia, nếu xét theo những khía cạnh tiến bộ và tích cực của nó vẫn hết sức cần thiết trong xã hội hiện nay

Theo Khổng Tử xã hội loạn lạc do Danh –Thực rối loạn,dẫn đến xã hội xa rời đạo lý và nhân nghĩa.Ông chủ trương phải giáo hoá đạo đức và thực hiện chủ nghĩa “ chính danh,định phận’’, vì mọi người, mỗi vật sinh ra đều có địa vị, công dung nhất định, ứng với một tên gọi nhất định

   … “Chính danh là làm việc cho ngay thẳng”

    … “Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người ấy;

        Trên dưới, vua tôi cha con, trật tự phân minh”

    … “Danh không chính thì ngôn không thuận;

    … Ngôn không thuận thì việc không thành”

Vì vậy từ cán bộ lãnh đạo cho đến thứ dân,người nào cũng phải trọn trách nhiệm của người ấy,cho đúng với danh vị và chức phận của mình

Nếu mọi người trong xã hội chúng ta ngày nay đều xứng đáng,đều tuân thủ đúng với danh vị và chức phận của mình thì xã hội tất sẽ không rối loạn không có nạn tham nhũng,hối lộ, tham ô và không có những tệ nạn tiêu cực, xấu xa hủ bại.

Biết bao thế hệ thầy và trò đã trưởng thành,đã đóng góp tài năng,trí lực,và cả xương máu của mình vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Ngành giáo dục thực sự đã có công rất lớn trong việc đào tạo ra những thế hệ xứng đáng với dân tộc chúng ta.

Khi chiến tranh chấm dứt đã được khá lâu ,chuyện trường và lớp vẫn chưa được biến đổi nhiều. Đó là do hậu quả của chiến tranh,và còn rất nhiều nguyên nhân quan trọng khác.Nhưng có điều đáng nói là ở chổ ;chữ Tài và chữ Đức trong trường học và trong nhiều lãnh vực…gây nhiều mối lo ngại cho các bậc phụ huynh và cho toàn xã hội. Việc học sinh bỏ học,vô lễ,thậm chí phạm pháp…gần như diễn ra ở rất nhiều nơi…Chữ Lễ đã mất đi giá trị đích thực của nó. Do những chuyện tiêu cực  trong việc dạy và học còn tồn tại khá nhiều, cho nên dẫn đến việc trò chưa đạt chất lựơng.Thầy chưa đạt chuẩn hoá. Đã có một thời gian dài việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cho học sinh là vấn đề hàng đầu mà ngành giáo dục phải quan tâm.

Trong những năm gần đây,vai trò và vị trí của giáo dục đã nhìn nhận đúng với vị trí  đích thực của nó, giáo dục trở thành quốc sách, được Đảng và nhà nuớc và toàn xã hội đặc biệt quan tâm. Sự biến đổi về trường và lớp là điều dễ nhận thấy nhất: Những ngôi trường già nua,những lớp học giột nát…dần đã biến mất,hàng loạt các ngôi trường cao tầng khang trang, sạch đẹp với những tiện nghi đầy đủ,hiện đại đạt chuẩn quốc gia đã mọc lên hầu hết khắp các địa phương trong cả nước. Ai cũng sung sướng và yên tâm khi nhìn thấy con em mình được học tập trong những điều kiện thuận lợi. Như vậy vấn đề trừơng cho ra trường,lớp cho ra lớp là yêu cầu đã đang và sẽ trở thành hiện thực.Việc còn lại phải làm sao để “Thầy cho ra thầy, trò cho ra trò” Việc chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo…trong tất cả các ngành học, cấp học…tuy khó khăn và gian khổ nhưng sẽ dần giải quyết được vấn đề chất lượng.

 Trong quá trình tiếp nhận Nho giáo, giữa văn  hóa Việt Nam và Nho giáo đã bộc lộ những nét tương đồng và dị biệt, và nó đã được Việt Nam hóa, làm cho Nho giáo ở Việt Nam không còn trạng thái nguyên sơ của nó nữa.

 ° Những điểm tương đồng đã được chú trọng phát huy :

a. Nét tương đồng lớn nhất là sự trọng tình người. Vì trọng tình người vốn là truyền thống lâu đời của nền văn  hóa Việt Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt Nam tâm đắc với chữ “Nhân” hơn cả. Nhưng ở đây là lòng thương người “Tấm lòng đã thấu trời xanh. Bán mình là hiếu, cứu người là nhân” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Nhân nghĩa trong Nho giáo là tình cảm, nghĩa vụ của bầy tôi đối với nhà Vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng, nhưng ở Nguyễn Trãi và các nhà trí thức Việt Nam thì “Điều cốt yếu ở nhân nghĩa là phải đem lại cho nhân dân cuộc sống thanh bình và đạo quân chính nghĩa nhằm tiêu diệt những quân tàn bạo” (Bình Ngô Đại Cáo). Đối với người bình dân, “Nhân” còn đồng nghĩa với “Tình” các từ nhân tình, nhân ngãi, nhân duyên trong tiếng Việt là nói về tình yêu trai gái.

b. Nét tương đồng lớn thứ hai là xu hướng ưa ổn định : Truyền thống văn hóa nông nghiệp luôn chỉ muốn có cuộc sống ổn định. Mục đích của Nho giáo nguyên thủy là tạo ra một xã hội ổn định. Tuy nhiên, ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ Ngai vàng, còn đối ngoại luôn bành trướng, xâm lăng. Ở Việt Nam, nhu cầu duy trì ổn định không chỉ có ở dân mà ở cả Triều đình, không chỉ ở đối nội mà ở cả đối ngoại. Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng thực hiện đều mang tính tự vệ.

c. Nét tương đồng thứ ba là xu hướng trọng văn : Trọng văn là truyền thống văn hóa nông nghiệp Việt Nam. Nho giáo cũng rất trọng vẻ sỹ, trọng văn, trọng văn hóa. Xã hội Trung Hoa sau thời đại nhà hán có trọng văn, nhưng nhìn chung cũng chỉ ngang hàng quan võ. Còn ở Việt Nam thì trọng văn hơn cả võ. Việt Nam chiến tranh liên miên, thế nhưng người Việt ít ai biết đến các kỳ thi võ mà chỉ lo nấu sử sôi kinh. Nhà cầm quyền Việt Nam nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ cai trị, còn người bình dân thì thấy ở Nho giáo một công cụ văn hóa, một con đường làm nên nghề nghiệp lớn :”Chẳng tham ruộng cả ao liền, tham vì cái bút cái nghiêng anh đồ”.

° Những tư tưởng Việt Nam đã bổ sung, phát triển vào Nho giáo :

Ở Nho giáo, tư tưởng trung quân đóng vai trò quan trọng, còn tư tưởng yêu nước thì không được đề cập đến. Trong khi đó thì ở Việt Nam tinh thần yêu nước Và tinh thần dân tộc, là truyền thống rất mạnh. Người Việt Nam tiếp thu tư tưởng trung quân Nho giáo trên cơ sở tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có, khiến có cái trung quân bị biến đổi. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa Vua với đất nước, thì đất nước, dân tộc là cái quyết định. Lê Hoàn thay nhà Đinh; Lý Công Uẩn thay nhà Lý … Khi triều đại cũ không còn đủ năng lực để lãnh đạo đất nước. Nên đều được quân dân ủng hộ. Nguyễn Trãi theo Lê Lợi và không theo con cháu nhà Trần, Ngô Thời Nhậm theo Tây Sơn mà không theo nhà Lê; các nhà Nho yêu nước cuối thế kỷ XIV từ Trương Định trở đi không theo triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, mà tiến hành khởi nghĩa chống giặc (và chống triều đình) đều vì đặt nước trên Vua.

Truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp ở nước ta đã làm “mềm” đi sự độc tài hà khắc của nhà nước Hán Nho. (Thật sự Nho giáo nguyên thủy cũng có yếu tố dân chủ, nhưng đến Hán Nho đã bị loại trừ hẳn.

Tâm lý khinh rẻ nghề buôn là sản phẩm truyền thống của văn hóa nông nghiệp, của tính cộng đồng và tính tự trị. Nó đã bám rễ vào mọi người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt Nam không thể phát triển được, nó còn được khái quát thành đường lối trọng nông ức thương (trong Nho giáo cũng có tư tưởng xem nhẹ nghề buôn, nhưng đó chỉ là sản phẩm của quan điểm coi trọng “đạo” và “đạo đức”. Thật ra Khổng Tử cũng khuyến khích làm giàu nếu không trái lễ. Mạnh Tử cũng đã từng bàn đến các vấn đề trao đổi hàng hóa, giá cả, chính sách thu thuế chợ, đường … Chính vì vậy mà ở Trung Hoa, Nho giáo không hề cản trở nghề buôn phát triển), “truyền thống” này, kết hợp với Nho giáo khiến cho Việt Nam nông nghiệp âm tính vốn đã thiên về ổn định, lại càng thêm trì trệ. Đến nay, ta hầu như dứt bỏ được quan niệm khinh rẻ nghề thương nghiệp, nhưng để dứt bỏ hết những hậu quả của nó còn cần phải có thời gian.



\
Chi Tiết